<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>


    <rss version="2.0" xmlns:atom='http://www.w3.org/2005/Atom'>


	<channel>

	<atom:link href='http://mathvn.org/infusions/rss_feeds_panel/feeds/news.php' rel='self' type='application/rss+xml' />
	<title>Cộng Đồng Học sinh - Sinh viên yêu Toán Việt Nam - Latest News</title>

	<link>http://mathvn.org/</link>

	<description>Website của Cộng đồng Sinh viên, Học sinh yêu Toán Việt Nam. 
</description>

	<image>

    <url>http://mathvn.org/infusions/rss_feeds_panel/images/phpn_rss.png</url>

    <title>Cộng Đồng Học sinh - Sinh viên yêu Toán Việt Nam - Latest News</title>

    <link>http://mathvn.org/</link>

  </image>
<item>

	<title>Giúp trẻ thích Toán </title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=24</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=24</guid>

	<description>Làm cách nào để khuyến khích trẻ em thích học Toán? Các Giáo sư Victor Ivrii và Olga Zaitseva-Ivrii ở Đại học Toronto (Canada) đưa ra một số lời khuyên sau đây. &lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
Cả nhà cùng thảo luận về các bài toán.  Thậm chí nếu cả nhà cố gắng mà vẫn không giải được, thì vẫn rất có ích cho trẻ vì có dịp xem xét các bài toán từ nhiều hướng và tìm tòi nhiều cách tiếp cận. Ví dụ về vài bài toán logic mà cả nhà có thể thảo luận với trẻ:&lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
- Một con tàu đi từ Toronto tới Montreal. Một giờ sau, một con tàu khác đi từ Montreal tới Toronto. Hai con tàu đi với cùng vận tốc. Hỏi khi gặp nhau, con tàu nào gần Montreal hơn?&lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
- Một tiểu đoàn lính cần đi qua sông. Họ tìm thấy 1 chiếc thuyền nhỏ và 2 chú nhóc. Nhưng chiếc thuyền quá nhỏ nên chỉ có thể chở 1 người lớn, hoặc 2 chú nhóc. Bằng cách nào họ có thể vượt sông? &lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
Suy nghĩ sâu quan trọng hơn suy nghĩ nhanh. Thường thì các thầy cô và các bậc phụ huynh sẽ mong muốn trẻ em giải các bài toán một cách nhanh chóng. Khả năng suy nghĩ nhanh sẽ quan trọng trong nhiều công việc, nhưng trong Toán thì khả năng suy nghĩ sâu sắc và liên kết các vấn đề mới thực sự quan trọng hơn nhiều, đặc biệt đối với những người nghiên cứu Toán học.&lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
Ông David Hilbert, một nhà Toán học vĩ đại, lúc học phổ thông thường khá chậm trong việc giải các bài toán dễ. Ông luôn là một trong những người cuối cùng hoàn tất các bài tập dễ. Nhưng khi các bài tập trở nên khó hơn, ông là một trong những người đầu tiên giải được. Hơn nữa, nếu bài toán thực sự khó, khi mà hầu hết học sinh trong lớp không thể giải được, ông vẫn giải xong với cùng thời gian như khi giải các bài tập dễ.&lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
</description>

	<pubDate>Tue, 10 Jan 2012 15:37:09 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Paul Pierre Lévy</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=23</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=23</guid>

	<description>Paul Pierre Lévy (15/9/1886-15/12/1971) là một nhà toán học Pháp, được &lt;br /&gt;
biết đến như là một trong những người tiên phong của lý thuyết xác suất,&lt;br /&gt;
 quá trình ngẫu nhiên và martingales. Quá trình Lévy , độ đo Lévy, hằng &lt;br /&gt;
số Lévy, phân phối Lévy, đường cong fractal Lévy C... là những thuật ngữ&lt;br /&gt;
 toán học thông dụng được đặt theo tên ông. &lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
Paul Pierre Lévy sinh ra trong một gia đình người Do Thái có truyền &lt;br /&gt;
thống Toán học. Ông nội của ông là giáo sư Toán trong khi cha ông - &lt;br /&gt;
Lucien Lévy làm việc tại École Polytechnique và nghiên cứu về hình học. Paul vào học ở trường trung học Saint Louis ở Paris và đạt được thành &lt;br /&gt;
tích xuất sắc không chỉ riêng môn Toán mà còn có tiếng Hy Lạp, Hóa học &lt;br /&gt;
và Vật lý. Ông đỗ vào cả hai trường đại học danh tiếng  là École Normale&lt;br /&gt;
 Supérieur và École Polytechnique. Ông chọn École Polytechnique và trong&lt;br /&gt;
 khi còn đang làm sinh viên ông đã công bố công trình đầu tiên về sự bán&lt;br /&gt;
 hội tụ của chuỗi vào năm 1905. Sau khi tốt nghiệp ông phục vụ trong &lt;br /&gt;
quân ngũ một năm trước khi học tiếp École des Mines vào năm 1907. &lt;br&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br&gt;</description>

	<pubDate>Sun, 09 Oct 2011 03:18:02 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Vật lý Toán tại các nước đang phát triển</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=22</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=22</guid>

	<description>hoadai&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Giới thiệu. Bản tin tháng 1 năm 2011 của Hội Vật Lý Toán Quốc Tế  (IAMP) đã đề cập tới việc giúp đỡ những người làm Vật Lý Toán ở các nước  đang phát triển. Trong bản tin này có bài viết &quot;A first survey and report from the IAMP working group for developing countries'' của Bindu A. Bambah, Rafael Benguria, Norbert Hounkonnou và Tsou Sheung  Tsun, mà chúng tôi lược dịch một phần dưới đây. Bạn đọc quan tâm có thể  xem ở http://www.iamp.org/page.php?page=page_bulletin&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;p style=&quot;margin: 0px; text-indent: 0px; text-align: center;&quot;&gt; &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;p style=&quot;margin: 0px; text-indent: 0px; text-align: center;&quot;&gt;Lễ tốt nghiệp tại AIMS 6-2011&lt;/p&gt;</description>

	<pubDate>Fri, 30 Sep 2011 16:03:46 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Poincaré Chair tại IHP và Giải Clay 2011</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=21</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=21</guid>

	<description>Viện toán Clay (CMI) và viện Toán và Vật lý lý thuyết Henri Poincaré  (IHP) thông báo trong một hội nghị mới đây rằng sẽ thiết lập &quot;Poincaré  Chair&quot;, một vị trí postdoc tại IHP trong vòng 6 tháng đến một năm và kinh  phí được tài trợ bởi quỹ Clay Millennium Prize cho lời giải của giả  thuyết Poincaré conjecture. Giải thưởng triệu đô cho lời giải này đã bị  khước từ bởi nhà toán học người Nga, Grigoriy Perelman vào năm 2010.  Poincaré Chair theo như mục đích của IHP, CMI là đưa ra cơ hội cho các  nhà Toán học nhằm phát triển và theo đuổi các ý tưởng của họ cũng như  Grigoriy Perelman đã được giành một cơ hội cho fellowship ở Miller  Institute trong những năm 93-95.Viện Clay năm nay cũng trao giải &quot;Clay Research Award&quot; cho Yves Benoist, Jean-François Quint và Jonathan Pila.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Giải thưởng được trao tặng cho Yves Benoist (Université Paris-Sud),  Jean-François Quint (LAGA, Paris 13) với công trình xuất sắc của họ về  độ đo dừng và bao đóng quỹ đạo cho tác động của nhóm không Abel lên một  không gian thuần nhất. Công trình này là một bước đột phá lớn Động lực  học thuần nhất và các lĩnh vực liên quan của toán học. Đặc biệt, Benoist  và Quint đã chứng minh các giả thuyết sau đây của Furstenberg: Nếu  là nhóm con nửa đơn trù mật Zariski của một nhóm Lie, tác động các chuyển dịch bên trái trên thương của  cho một nhóm rời rạc với đối thể tích hữu hạn. Xét độ đo xác suất  với giá trên . Thế thì, bất kỳ độ đo xác suất -dừng cho một tác động như thế là H-bất biến.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;Yves Benoist</description>

	<pubDate>Fri, 30 Sep 2011 15:13:45 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Norbert Wiener: từ thần đồng đến nhà khoa học vĩ đại</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=20</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=20</guid>

	<description>Norbert Wiener sinh ngày 26-11-1894 tại Columbia, Missouri, Hoa Kỳ. Ông là nhà toán học nổi tiếng trên cả phương diện toán học thuần túy và toán học ứng dụng, được coi là cha đẻ của ngành Điều khiển học, là người tiên phong nghiên cứu về quá trình ngẫu nhiên và quá trình ồn (noise). &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Cha của ông là Leo Wiener, một giáo sư ngôn ngữ người Nga Do Thái là người sớm nhận ra khả năng thiên bẩm của con trai và đã hướng cho ông một nền tảng tốt về giáo dục. Mẹ ông là một người Đức Do Thái, ông đã từng nói về mẹ của mình như là &quot;một người phụ nữ nhỏ bé, khỏe mạnh, mạnh mẽ và sôi nổi&quot;. &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Ông được cha mẹ giáo dục tại nhà cho đến năm 1903 (một phương pháp giáo dục quen thuộc của người Do Thái cho con trẻ nhằm khơi gợi phát hiện năng khiếu của chúng). Ông trở thành một thần đồng nổi tiếng chính là do sự hướng dẫn của người cha vốn là một giảng viên ngôn ngữ những lại là một người học rộng và có hẳn cho mình một thư viện riêng. Leo cũng là một người có khả năng về Toán học và ông truyền đạt một số kiến thức về Toán cho con trai của mình ngay từ thủa ấu thơ...</description>

	<pubDate>Sun, 28 Feb 2010 18:21:46 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Toán học và Điện ảnh</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=19</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=19</guid>

	<description>Ăn hết bỏng ngô chưa? Chỗ ngồi bạn tốt chứ? Bạn ngồi có thoải mái không? Hãy bắt đầu xem nhé...&lt;br /&gt; Toán học hân hạnh giới thiệu...&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Tất cả chúng ta điều ngạc nhiên bởi những hình ảnh vi tính giống thực đến mức không thể tin được trong những bộ phim. Nhưng hầu hết chúng ta không nhận ra rằng những con khủng long trong Công viên kỷ Jura và những kì quan của Chúa tể của những chiếc nhẫn - đặc biệt nhất là nhân vật Gollum - sẽ không thể có được nếu không có Toán học.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Những hình ảnh đáng kinh ngạc này được làm ra như thế nào? Đồ họa vi tính và tầm nhìn máy tính là những vấn đề rất lớn. Trong bài viết này, chúng ta sẽ có một cái nhìn đơn giản vào vài yếu tố toán học cần dùng để đi đến sản phẩm cuối cùng. Đầu tiên, chúng ta xây dựng một thế giới được thấy trong phim, và sau đó mang chúng ra đời thực.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Dựng cảnh&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; Hình 1. Mô hình chủ thể đầu tiên như một khung dây được làm từ những đa giác đơn giản ví dụ như tam giác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;Bước thứ nhất trong việc làm một bộ phim vi tính là tạo ra những nhân vật trong truyện và thế giới chúng sống. Mỗi đối tượng được làm mô hình như một bề mặt phủ bởi các đa giác liên kết với nhau (thường là tam giác). Các đỉnh của mỗi tam giác được lưu trong bộ nhớ máy tính. Biết mặt nào của tam giác nằm ngoài bề mặt vật thể hay nhân vật cũng rất quan trọng. Thông tin này được mã hóa bằng thứ tự các đỉnh được lưu vào, theo quy tắc đinh ốc (quy tắc nắm tay phải): Khum các ngón tay của bàn tay phải vòng quanh tam giác theo chiều được quy định bởi các đỉnh. Chỉ có một cách duy nhất để làm điều này và ngón tay phải sẽ chỉ về một phía của tam giác - phía đó là phía ngoài. Nếu bạn thử với một ví dụ, bạn sẽ thấy chiều hướng ra ngoài (pháp tuyến ngoài) của tam giác  sẽ ngược chiều với của tam giác . &lt;br /&gt;</description>

	<pubDate>Fri, 26 Feb 2010 22:20:05 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Giả thuyết Riemann</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=18</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=18</guid>

	<description>Hilbert, tại đại hội Toán học Thế giới năm 1990 ở Paris, đã đưa Giả Thuyết Riemann vào danh sách 23 bài toán dành cho những nhà Toán học của thế kỷ 20. Bây giờ thì nó đang tiếp tục thách thức những nhà Toán học ở thế kỷ 21. Giả thuyết Riemann (RH - Riemann Hypothesis) đã tồn tại hơn 140 năm, và hiện tại cũng chưa hẳn là thời kỳ hấp dẫn nhất trong lịch sử bài toán. Tuy nhiên những năm gần đây đã chứng kiến một sự bùng nổ trong nghiên cứu bắt nguồn từ sự kết hợp giữa một số lĩnh vực trong Toán học và Vật lý.&lt;br /&gt;
&lt;p&gt;Trong 6 năm qua, Viện Toán học Mỹ (AIM - American Institute of Mathematics) đã tài trợ cho 3 đề án tập trung vào RH. Nơi đầu tiên (RHI) là ở Seattle vào tháng 8 năm 1996 tại đại học Washington (University of Washington). Nơi thứ hai (RHII) là ở Vienna vào tháng 10 năm 1998 tại Viện Schrodinger (Erwin Schrodinger Institute), và nơi thứ ba (RHIII) là ở New York vào tháng 5 năm 2002 tại Viện Toán Courant (Courant Institute of Mathematical Sciences). Mục tiêu của 3 đề án này là để khích lệ nghiên cứu và thảo luận về một trong những thách thức lớn nhất của Toán học và để xem xét những hướng tiếp cận khác nhau. Liệu chúng ta có tiến gần hơn tới lời giải cho Giả thuyết Riemann sau các nỗ lực đó? Liệu có phải chúng ta đã học được nhiều điều về hàm zeta (zeta-function) từ các đề án đó? Điều đó là chắc chắn! Một số thành viên trong các đề án này đang tiếp tục cộng tác với nhau trên trang web (http://www.aimath.org/WWN/rh/), nơi cung cấp một cái nhìn tổng quan cho chủ đề này.&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;p&gt;Ở đây tôi hi vọng phác thảo một số hướng tiếp cận tới RH và kể nhứng điều thú vị khi làm việc trong lĩnh vực này tại thời điểm hiện tại. Tôi bắt đầu với bản thân Giả thuyết Riemann. Năm 1859 trong một báo cáo seminar &quot;Ueber die Anzahl der Primzahlen unter eine gegebener Grosse&quot;, G. B. F. Riemann đã chỉ ra một số tính chất giải tích căn bản của hàm zeta&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;p&gt;Chuỗi này hội tụ nếu phần thực của  lớn hơn . Riemann chứng minh rằng  có thể mở rộng bởi sự liên tục thành một hàm giải tích trên cả mặt phẳng phức ngoại trừ tại điểm  (simple pole). Hơn nữa ông chứng minh rằng  thỏa mãn một phương trình hàm thú vị mà dạng đối xứng của nó là&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;p&gt;trong đó  là hàm Gamma (Gamma-function).&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;p style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;Hình 1:  với &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;p style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;/p&gt;</description>

	<pubDate>Fri, 26 Feb 2010 01:12:56 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Nhà Toán học Xô-viết Aleksandr Yakovlevich Khinchin</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=17</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=17</guid>

	<description>Aleksandr Yakovlevich Khinchin sinh ngày 19-7-1894 tại Kondrovo, thuộc tỉnh Kaluga của nước Nga,  qua đời ngày 18-11-1959 tại Moscow. Ông là nhà Toán học nổi tiếng người Nga nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực: lý thuyết hàm, lý thuyết số, lý thuyết thông tin và đặc biệt là lý thuyết Xác suất, Thống kê toán học, lý thuyết Hàng đợi (lý thuyết Phục vụ đám đông) và Vật lý thống kê.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;Cha của Khinchin là một kĩ sư điều này ảnh hưởng đến quyết định ông vào học ở một trường trung cấp kĩ thuật ở Moscow. Ở đó ông bắt đầu niềm đam mê môn Toán. Tuy thế Toán học không phải là một mối quan tâm duy nhất, ông còn rất yêu thích làm thơ và nhạc kịch. Ông hoàn tất bậc trung học vào năm 1911 và đậu vào khoa Vật Lý và Toán học của Đại học Tổng hợp Moscow danh tiếng...</description>

	<pubDate>Thu, 25 Feb 2010 19:11:40 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Dennis P. Sullivan và Shing-Tung Yau nhận giải thưởng Wolf 2010</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=16</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=16</guid>

	<description>Hai nhà toán học Dennis P. Sullivan (City University of New York) and Shing-Tung Yau (Harvard University) vừa được lựa chọn đẻ trao giải Wolf Prize 2010.    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Sullivan, với những hiểu biết sâu sắc cho sự vận dụng công cụ hình học, ông đã đóng góp nhiều vấn đề nền tảng trong Toán học, bao gồm cả lý thuyết đồng luân, hệ động học, và string topology thấp chiều. Được biết đến nhiều kết quả quan trọng biểu hiện cho tầm nhìn của ông về toán học, Sullivan là nhân tố chính cho sự phát triển sôi động của khu vực nghiên cứu về lý thuyết hệ động lực học bảo giác, string topology. Ông đã nhận được giải Veblen (AMS) năm 1971 và giải Steele cho thành tựu trọn đời vào năm 2006...&lt;br /&gt;</description>

	<pubDate>Thu, 25 Feb 2010 19:05:41 GMT</pubDate>

	</item>

<item>

	<title>Olympic Toán Sinh viên Quốc Tế - IMC 2009</title>

	<link>http://mathvn.org/news.php?readmore=15</link>

	<guid isPermaLink='true'>http://mathvn.org/news.php?readmore=15</guid>

	<description>&lt;p style=&quot;margin: 0px; text-indent: 0px; -qt-block-indent: 0; -qt-paragraph-type: empty;&quot;&gt; &lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;p style=&quot;margin: 0px; text-indent: 0px; -qt-block-indent: 0; -qt-user-state: 0;&quot;&gt;Năm nay cuộc thi Olympic Toán học sinh viên Thế giới (IMC) được tổ chức tại thủ đô Budapest, Hungary từ ngày 25-30 tháng 07 dưới sự phối hợp giữa Đại học London (Anh Quốc) và Đại học Eötvös Loránd, Đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest. Cuộc thi có sự tham gia của các sinh viên từ năm 1 đến năm 4 các trường đại học trên toàn thế giới, được chia làm hai vòng, mỗi vòng có thời gian làm bài là 5 tiếng đồng hồ. Các bài toán được đề nghị thuộc lĩnh vực Đại số, Giải tích (thực và phức), Hình học và Tổ hợp. Các thí sinh phải sử dụng tiếng anh trong bài thi của mình. Được biết trong suốt các kỳ thi IMC được tổ chức từ năm 1994 đã thu hút sinh viên của hơn 150 trường đại học từ 40 quốc gia trên toàn thế giới tham dự. Đoàn Việt Nam do GS. TSKH Nguyễn Văn Mậu làm trưởng đoàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;p style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;Năm nay đề thi được đánh giá hay và khó, hai bạn có số điểm cao nhất:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Alexander Efimov, MSU, 77 điểm&lt;br /&gt;Jakub Konieczny, Jagiellonian University, 77 điểm&lt;/p&gt;&lt;br /&gt;
&lt;p style=&quot;margin: 0px; text-indent: 0px; -qt-block-indent: 0; -qt-paragraph-type: empty;&quot;&gt; &lt;/p&gt;</description>

	<pubDate>Wed, 29 Jul 2009 09:26:14 GMT</pubDate>

	</item>

</channel>
	</rss>
